Không phải cứ êm là tốt
Trong một tập thể, sự đoàn kết, thống nhất luôn là giá trị cần được trân trọng. Tuy nhiên, đoàn kết không đồng nghĩa với né tránh góp ý, phê bình; giữ gìn mối quan hệ không đồng nghĩa với bỏ qua khuyết điểm; thận trọng trong ứng xử càng không đồng nghĩa với im lặng trước cái sai.
Một người thấy đồng chí mình có khuyết điểm lựa chọn cách góp ý chân thành, đúng lúc, đúng nơi, có căn cứ, nhằm giúp nhau tiến bộ, đó là trách nhiệm. Một người trước vấn đề chưa đủ thông tin, chưa rõ bản chất thận trọng trong phát ngôn là cần thiết. Nhưng thấy rõ sai lầm, khuyết điểm có thể gây hậu quả mà vẫn né tránh chỉ vì sợ mất lòng, sợ chịu trách nhiệm, thì đó lại là một biểu hiện đáng lo ngại.
Về vấn đề này, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới đã chỉ rõ tình trạng cán bộ làm việc cầm chừng, e ngại rủi ro, sợ sai, đùn đẩy trách nhiệm, né tránh công việc; đồng thời đặt ra yêu cầu khắc phục tình trạng này.
Như vậy, ngại va chạm không phải câu chuyện nhỏ của phong cách ứng xử. Khi trở thành tâm lý phổ biến, nó có thể tác động trực tiếp đến chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu và khả năng tự chỉnh đốn của tổ chức.
Một cuộc họp có thể diễn ra rất êm, nhưng chưa chắc đã có sự đồng thuận thực chất. Một tập thể có thể ít tranh luận, nhưng chưa chắc không có vấn đề. Một cơ quan có thể không có nhiều ý kiến phản biện, nhưng điều đó không có nghĩa là mọi quyết định đều đúng. Đôi khi, đằng sau sự yên ắng là những điều chưa được nói ra, là những mâu thuẫn đang được tích tụ. Và đó chính là khoảng trống để cái sai tồn tại và ngày càng nghiêm trọng.
Khi sự im lặng trở thành “vùng an toàn” cho cái sai
Cái sai không phải lúc nào cũng lớn lên nhờ những người cố tình cổ xúy cho nó. Trong không ít trường hợp, nó lớn lên từ sự nể nang, né tránh, im lặng hoặc tâm lý “không muốn dây vào”. Có người biết một quy trình còn bất cập nhưng không đề xuất sửa vì “từ trước đến nay vẫn làm như vậy”. Có người nhận thấy đồng chí thực hiện nhiệm vụ chưa đúng nhưng ngại góp ý vì sợ ảnh hưởng quan hệ. Có người phát hiện vấn đề trong cuộc họp nhưng không nói, sau cuộc họp mới trao đổi riêng hoặc xì xào sau lưng. Có người chứng kiến biểu hiện thiếu trách nhiệm nhưng nghĩ rằng “đó là việc của lãnh đạo”.
Những biểu hiện ấy, nếu xuất hiện đơn lẻ, có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng nếu lặp lại và trở thành cách ứng xử phổ biến, chúng sẽ làm suy giảm một năng lực đặc biệt quan trọng của tổ chức: Khả năng tự phát hiện và tự sửa chữa sai sót.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Tinh thần ấy đặt ra một yêu cầu rất rõ: Khuyết điểm có thể xuất hiện trong quá trình hoạt động, nhưng thái độ trước khuyết điểm mới quyết định khả năng tiến bộ. Biết sai mà sửa, phát hiện vấn đề mà chấn chỉnh, đó là cơ chế tự hoàn thiện. Ngược lại, nếu vì nể nang, né tránh mà để khuyết điểm kéo dài, sai sót nhỏ có thể tích tụ thành vấn đề lớn.
Đại tá, TS Hà Sơn Thái, Phó trưởng phòng Khoa học quân sự, Tổng cục Chính trị cho biết: Sự nguy hiểm của tình trạng ngại va chạm hay bệnh nể nang trong phê bình và tự phê bình được Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm cảnh báo trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị: “Nói về từng người, nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình!”. Thứ “thuốc độc” này là một trong những biểu hiện cụ thể của suy thoái về tư tưởng chính trị được Nghị quyết số 04-NQ/TW khóa XII của Đảng chỉ rõ. Nếu để “căn bệnh trầm kha” này kéo dài thì chẳng những có hại cho đồng chí, cấp trên, cùng cấp và cấp dưới của mình kéo dài lầm lỗi; không những tự mình tích tụ vi phạm mà còn khiến tập thể đoàn kết xuôi chiều, êm xuôi giả tạo, sức mạnh giảm sút và khó hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Một bất cập trong quy trình, một biểu hiện lệch chuẩn trong thực thi nhiệm vụ hay một dấu hiệu thiếu trách nhiệm nhiều khi chỉ được nhận biết sớm nhất bởi những người trực tiếp làm việc cùng nhau. Nếu những người đó đều im lặng, hệ thống cảnh báo sớm sẽ mất tác dụng. Bởi vậy, chống tâm lý ngại va chạm thực chất là xây dựng khả năng tự kiểm soát, tự chỉnh đốn từ bên trong tổ chức.
Ngày 3/9/2026, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Điều quyết định là tổ chức thực hiện và trách nhiệm người đứng đầu”. Điều đó đặt ra yêu cầu mỗi nhiệm vụ phải rõ mục tiêu, đầu mối chịu trách nhiệm, thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn và sản phẩm; biến nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả.
Trách nhiệm của người đứng đầu là rất quan trọng, nhưng trách nhiệm không chỉ bắt đầu từ cấp trên. Trong một tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên đều có trách nhiệm với phần việc của mình, với tập thể và với những vấn đề mình phát hiện.
Không thể có một tổ chức thực sự mạnh nếu người đứng đầu dám quyết định nhưng cấp dưới không dám nói thật. Cũng không thể xây dựng một môi trường dân chủ nếu ý kiến phản biện chỉ được khuyến khích trên lời nói, còn người thẳng thắn lại phải đối diện với định kiến hoặc những hệ lụy không chính đáng.
Nghị quyết số 24-NQ/TW đặt yêu cầu xây dựng môi trường làm việc dân chủ, cởi mở, tôn trọng các ý kiến phản biện có tính xây dựng; đồng thời xử lý nghiêm những trường hợp né tránh, đùn đẩy, kéo dài hoặc không thực hiện đầy đủ trách nhiệm thuộc thẩm quyền mà không có lý do chính đáng.
Dám nói, dám đấu tranh, nhưng phải vì lợi ích chung
Chống ngại va chạm không có nghĩa là cổ xúy cho thái độ cực đoan, cứ thấy điều gì không vừa ý là phê phán; càng không phải biến sinh hoạt tập thể thành nơi tranh luận hơn thua, quy chụp với động cơ không trong sáng hoặc công kích hay hạ bệ uy tín cá nhân. Thẳng thắn không đồng nghĩa với tùy tiện, phản biện không đồng nghĩa với phủ định sạch trơn, đấu tranh không đồng nghĩa với đối đầu, giữ đoàn kết không đồng nghĩa với xuôi chiều.
Một ý kiến phản biện có giá trị phải hướng đến giải quyết vấn đề dựa trên thông tin, căn cứ và lập luận “có lý, có tình”; phân biệt rõ sự việc với con người, khuyết điểm với động cơ, sai sót khách quan với hành vi cố ý.
Nghị quyết số 24-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu khuyến khích đổi mới, sáng tạo gắn với kỷ luật, kỷ cương, minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực; phân định giữa đổi mới với vi phạm, giữa sai sót khách quan với hành vi cố ý, vụ lợi.
Về vấn đề này, PGS, TS Đỗ Chí Nghĩa (Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội) cho rằng: Nếu chỉ nhấn mạnh dám làm mà thiếu kiểm soát quyền lực có thể dẫn tới tùy tiện. Nếu chỉ nhấn mạnh không được sai mà không bảo vệ người dám đổi mới vì lợi ích chung có thể tạo ra tâm lý phòng thủ, làm việc cầm chừng. Nếu chỉ yêu cầu đoàn kết mà không bảo đảm quyền phản biện, đoàn kết dễ bị hiểu thành đồng thuận hình thức.
Vì vậy, điều cần xây dựng không phải là một môi trường ai cũng nói, mà là một môi trường ai cũng có trách nhiệm nói điều cần nói, vào đúng lúc, đúng chỗ, có căn cứ và vì lợi ích chung.
Trong tập thể, người đứng đầu thực sự cầu thị, biết lắng nghe ý kiến khác mình, không định kiến với người phản biện, không quy chụp người góp ý sẽ tạo ra một “vùng an toàn” tích cực: Cán bộ có thể nói thật mà không sợ bị xem là chống đối; chỉ ra hạn chế mà không bị coi là gây mất đoàn kết; đề xuất phương án khác mà không bị mặc định là thiếu đồng thuận. Ngược lại, nếu chỉ thích nghe điều thuận tai, rất dễ hình thành cơ chế chọn lọc thông tin: Cấp dưới chỉ báo cáo điều cấp trên muốn nghe; đồng nghiệp chỉ nói những điều không gây phiền toái; những vấn đề khó bị đẩy ra ngoài cuộc họp hoặc để tính sau. Khi ấy, cái giá phải trả không chỉ là một vài ý kiến bị bỏ qua mà lớn hơn là tổ chức mất đi khả năng nhìn thấy chính mình một cách trung thực.
Ở mỗi cán bộ, đảng viên, chống tâm lý ngại va chạm bắt đầu từ một câu hỏi giản dị: Nếu mình biết điều đó chưa đúng, mình có trách nhiệm gì với tập thể?
Không phải lúc nào cũng cần lên tiếng ngay giữa cuộc họp. Có việc cần trao đổi riêng, có việc cần báo cáo cấp có thẩm quyền, có việc phải kiểm tra thêm thông tin, nhưng không nên biến cách thức thành cái cớ để phủ nhận trách nhiệm.
Một cán bộ có bản lĩnh không phải là người không bao giờ mắc sai sót. Bản lĩnh còn thể hiện ở khả năng nhận ra sai sót, tiếp nhận phê bình, sửa chữa và chịu trách nhiệm về phần việc của mình. Một tổ chức có sức chiến đấu không phải là nơi lúc nào cũng đồng thanh nói “đúng”. Sức chiến đấu còn thể hiện ở khả năng nói điều cần nói khi có nguy cơ lệch hướng, bảo vệ cái đúng khi cái đúng chưa được nhìn nhận đầy đủ và sửa cái sai trước khi nó gây hậu quả lớn.
Điều cần loại bỏ không phải là sự khác biệt trong ý kiến, mà là tâm lý né tránh trách nhiệm; không phải sự thận trọng cần thiết, mà là sự thận trọng bị biến thành cái cớ để không hành động; không phải giữ gìn đoàn kết, mà là thứ đoàn kết xuôi chiều khiến cái sai không được chỉ ra.
Một lời góp ý đúng lúc có thể ngăn một sai sót, một ý kiến phản biện có căn cứ có thể mở ra một cách làm tốt hơn, người dám nói điều khó nói có thể giúp cả tập thể tránh một quyết định sai. Ngược lại, một sự im lặng vì sợ va chạm có thể tưởng như vô hại đối với cá nhân, nhưng nếu được lặp lại bởi nhiều người, nó có thể trở thành khoảng trống để cái sai tồn tại.
Vì thế, xây dựng văn hóa dám nói, dám phản biện, dám chịu trách nhiệm và dám sửa sai không chỉ là yêu cầu về phương pháp lãnh đạo, quản lý, đó còn là biểu hiện cụ thể của trách nhiệm, kỷ luật và tính chiến đấu trong mỗi tổ chức.
Đừng để sự êm ả giả tạo che khuất những vấn đề cần được nói ra. Đừng để tâm lý không muốn va chạm vô tình trở thành chiếc ô che chở cho cái sai. Và cũng đừng để người nói thật vì lợi ích chung phải cảm thấy mình đang đơn độc. Bởi nơi nào cái đúng được bảo vệ, cái sai được chỉ ra và người nói thật được tôn trọng, nơi đó tổ chức có khả năng tự sửa mình để tiến lên. Còn khi mọi người đều chọn im lặng để giữ sự yên ổn, cái sai có thể không ồn ào, nhưng vẫn âm thầm tồn tại.