Thứ Sáu, ngày 16 tháng 10 năm 2026

Giá trị và thước đo hiệu quả của Nghị quyết

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (ngày 5-8/10/2026).

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (5-8/10/2026) đã xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền; công tác cán bộ; kiểm tra, giám sát; đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh; trọng dụng nhân tài và phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng điều đáng suy ngẫm nhất của Hội nghị có lẽ không nằm ở số lượng văn kiện, mà ở một câu hỏi được đặt ra ngay trong phiên khai mạc.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Trung ương “nhìn thẳng vào những hạn chế kéo dài”: vì sao khuyết điểm đã được chỉ ra nhưng chậm sửa chữa; vi phạm đã được cảnh báo nhưng vẫn tái diễn; có nội dung đúng quy trình mà chưa chọn đúng người, chưa giải quyết được việc, hiệu quả thấp. Các nghị quyết mới, theo Tổng Bí thư, phải “xử lý căn nguyên, xác định trách nhiệm, kể cả trách nhiệm của cơ quan lãnh đạo, tham mưu ở Trung ương”.

Câu hỏi ấy mang sức nặng của lịch sử. Ba nhiệm kỳ liên tiếp, Hội nghị Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII đều dành cho xây dựng, chỉnh đốn Đảng, với Nghị quyết 12-NQ/TW (2012), Nghị quyết 04-NQ/TW (2016) và Kết luận 21-KL/TW (2021). Sự kiên trì đó đã tạo nên những chuyển biến không thể phủ nhận về kỷ luật, kỷ cương và niềm tin của Nhân dân. Chính vì vậy, khi Trung ương khóa XIV vẫn phải hỏi “vì sao tái diễn”, vấn đề không còn là ban hành thêm chủ trương đúng, mà là thay đổi cách làm để điều đã nhận diện được sửa đến cùng.

Khoảng cách giữa chủ trương và kết quả

Trong công tác cán bộ, từ năm 2018 Nghị quyết 26-NQ/TW đã thẳng thắn chỉ ra: đánh giá cán bộ “vẫn là khâu yếu”, việc bố trí, bổ nhiệm còn tình trạng “đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc”. Tám năm sau, nhận định ấy vẫn được nhắc lại. Bài toán vì thế không nằm ở chỗ thiếu quy trình, mà ở chỗ quy trình chưa bảo đảm chọn được người làm được việc.

Trong tổ chức thực hiện, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu đích danh tình trạng “nhiều văn bản, nhiều cuộc họp nhưng công việc chậm chuyển biến”. Giải ngân đầu tư công là một minh họa.

Số giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến hết ngày 01/10/2026 là 644.013,5 tỷ đồng, đạt 63% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. (Ảnh: Báo Điện tử Chính phủ). Số giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến hết ngày 01/10/2026 là 644.013,5 tỷ đồng, đạt 63% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. (Ảnh: Báo Điện tử Chính phủ).

Theo Bộ Tài chính, đến hết tháng 9/2026 cả nước giải ngân 62,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn cùng kỳ năm trước; song vốn ngân sách trung ương mới đạt 44,1%, trong khi vốn ngân sách địa phương đạt 73,6%. Con số ấy không đồng nghĩa với sai phạm, cũng chưa nói hết chất lượng từng dự án. Nhưng nó nhắc rằng cường độ chỉ đạo không phải là thước đo; thước đo là tiến độ, là công trình, là lợi ích người dân thực nhận.

Trong kiểm tra, giám sát, xử lý người vi phạm là cần thiết nhưng chưa đủ. Nếu không sửa cơ chế đã để sai phạm lọt qua, kỷ luật dù nghiêm vẫn chỉ đi sau hậu quả. Với đảng viên làm kinh tế và chính sách nhân tài cũng vậy: khuyến khích làm giàu chính đáng phải đi cùng kiểm soát xung đột lợi ích; thu hút người tài phải đi cùng giao việc xứng đáng.

Vì sao hạn chế dai dẳng?

Không thể giải thích sự tái diễn chỉ bằng “nhận thức chưa đầy đủ” hay “quyết tâm chưa cao”. Có ít nhất bốn nguyên nhân thuộc về cách vận hành.

Một là, trách nhiệm chưa gắn đến cùng với kết quả. Khi nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách bị vận dụng lệch, trách nhiệm tập thể trở thành nơi ẩn nấp của trách nhiệm cá nhân; thất bại dễ được giải thích bằng “phối hợp chưa tốt” hoặc “nguyên nhân khách quan”.

Hai là, đánh giá còn nặng hồ sơ, nhẹ sản phẩm. Người làm được việc chưa chắc được nhận diện; người tròn thủ tục mà hiệu quả thấp chưa chắc bị đánh giá tương xứng.

Ba là, sửa sai dừng ở kết luận, báo cáo. Một vụ việc có thể đã khép lại về kỷ luật, pháp lý, nhưng điều kiện sinh ra nó thì còn nguyên: khâu giám sát nào không hoạt động, cảnh báo nào bị bỏ qua, vì sao biện pháp khắc phục lần trước không hiệu quả?

Việc theo dõi tiến độ từng dự án là cơ sở để đăng ký kế hoạch giải ngân phù hợp. (Ảnh: Báo Nhân Dân). Việc theo dõi tiến độ từng dự án là cơ sở để đăng ký kế hoạch giải ngân phù hợp. (Ảnh: Báo Nhân Dân).

Bốn là, ranh giới giữa vụ lợi, cố ý làm trái với rủi ro trong đổi mới chưa đủ rõ. Khi đó, một bộ phận cán bộ chọn phương án an toàn cho bản thân thay vì phương án tốt cho việc chung. Tổng Bí thư đã yêu cầu kiểm soát “cả lạm quyền và né tránh trách nhiệm” - hai biểu hiện tưởng trái ngược nhưng chung một gốc: chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng lên trên lợi ích chung.

“Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong “Sửa đổi lối làm việc”. Nhưng theo Người, có gan thừa nhận thôi chưa đủ; còn phải vạch rõ vì đâu mà có và tìm mọi cách sửa chữa.

Thay đổi cách làm để sửa đến cùng

Trước hết, mỗi nhiệm vụ trọng tâm phải rõ người chịu trách nhiệm chính, thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn và kết quả phải đạt. Tinh thần “đã nhận việc phải làm, đã cam kết phải thực hiện” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu khi bế mạc cần trở thành nguyên tắc tổ chức. Cấp giao việc cũng phải chịu trách nhiệm về điều kiện thực hiện: không chuyển việc xuống dưới khi thiếu người, thiếu nguồn lực; nhưng cũng không để cơ quan đủ thẩm quyền tiếp tục xin ý kiến nhiều vòng.

Thứ hai, đánh giá cán bộ bằng việc khó đã giải quyết, không bằng số đầu việc đã báo cáo; đặt kết quả trong tương quan với thẩm quyền, nguồn lực và điều kiện thực hiện. Người giới thiệu, đánh giá, quyết định bố trí cán bộ phải chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Đánh giá chỉ có nghĩa khi dẫn đến giao việc xứng đáng hoặc thay thế kịp thời.

Việc theo dõi, đánh giá tiến độ giải ngân góp phần nâng cao trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương. (Ảnh: Báo Nhân Dân). Việc theo dõi, đánh giá tiến độ giải ngân góp phần nâng cao trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương. (Ảnh: Báo Nhân Dân).

Thứ ba, mỗi cuộc kiểm tra phải trả lời thêm một câu hỏi: sơ hở nào đã cho phép sai phạm xảy ra? Sau thời hạn xác định phải kiểm tra lại; sai sót cùng loại tái diễn thì xem xét cả trách nhiệm quản lý lẫn chất lượng giải pháp. Đi cùng là bảo vệ người nói thẳng, bảo vệ cán bộ liêm chính, dám đổi mới vì lợi ích chung.

Thứ tư, dựa vào Nhân dân để kiểm chứng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Phải thực sự dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng”. Báo cáo có thể tròn trịa, nhưng người dân biết rõ thủ tục có nhanh hơn không, công trình có xong không, cán bộ có gần dân hơn không. Sự giám sát của Nhân dân, của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và báo chí là kênh kiểm chứng không báo cáo nào thay được.

Sau cùng, sự gương mẫu phải bắt đầu từ trên. Mỗi cấp ủy cần tự xác định những hạn chế kéo dài nhất thuộc phạm vi mình, công khai việc phải sửa, người chịu trách nhiệm, thời hạn và căn cứ đánh giá. Không cần thêm tầng nấc báo cáo; cần ít chỉ số hơn nhưng phản ánh đúng chuyển biến.

Nhìn thẳng vào hạn chế không phải là phủ nhận thành tựu; đó là bản lĩnh của một Đảng cầm quyền dám tự soi, tự sửa. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định khi bế mạc, giá trị của Hội nghị thể hiện qua những vấn đề được giải quyết, qua chuyển biến trong đời sống Nhân dân. Thước đo của nghị quyết, vì thế, không phải là đã quán triệt bao nhiêu lần, ban hành bao nhiêu kế hoạch, mà là đã sửa được điều gì, đến đâu, bằng kết quả nào có thể kiểm chứng. Hạn chế cũ chỉ thôi tái diễn khi nó không còn được xử lý bằng chính những cách làm cũ.

Trung tướng Trần Bá Thiều, nguyên Tổng Cục trưởng, Tổng cục Chính trị CAND (Theo CAND.vn)

Link gốc: https://cand.vn/gia-tri-va-thuoc-do-hieu-qua-cua-nghi-quyet-post824933.html


Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo